Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT ĐỜI THƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP LUẬT ĐỜI THƯỜNG. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 28 tháng 4, 2012

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO (PHẦN I)

MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ KHIẾU NẠI, TỐ CÁO (PHẦN I)


Tôi sẽ chỉ trình bày với ngôn ngữ và khía cạnh chung nhất, và đơn giản, dễ hiểu nhất, đời thường nhất tại xã – tại nông thôn, nhằm mục đích để bà con nông dân có thể hiểu được. Vì vậy cho nên, có những vấn đề không thể được coi là “hiển nhiên đúng”. Nhưng vì mục đích dễ hiểu và đời thường, tôi xin phép được đề cập không đầy đủ, và xác đúng, toàn diện như tổng thể các quy định của pháp luật và thuật ngữ pháp lý về vấn đề này!


KHIẾU NẠI


1. Chúng ta được quyền khiếu nại khi nào:


Khi có đủ các điều kiện sau đây (Căn cứ vào Luật khiếu nại, tố cáo 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005):


+ Có căn cứ cho rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính đó lá trái pháp luật;


+ Xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khiếu nại.


Vậy, chỉ những chủ thể nào mà có quyền và lợi ích hợp pháp (chú ý đó phải là lợi ích hợp pháp) bị xâm phạm trực tiếp từ quyết định hành chính, hành vi hành chính mới có quyền khiếu nại. Những chủ thể - cá nhân hay tổ chức, pháp nhân – mà không bị xâm phạm – ảnh hưởng tiêu cực – xấu, thiệt hại – về quyền hay lợi ích hợp pháp một cách trực tiếp thì không được quyền khiếu nại.


Ví dụ: UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông A; mà diện tích đất trong Sổ đỏ không đúng với thực tế, “lấn” sang đất nhà ông B. Ông C là bạn thân chí cốt của ông B, thấy bất bình, dù ông B không nói gì; ông C đã “tự” đâm đơn khiếu nại về quyết định giao đất đó. Trường hợp này là không đúng – không được. Lúc này, chỉ có ông B – người bị thiệt hại – mới có quyền khiếu nại.


Chú ý: người khiếu nại – người có quyền khiếu nại – không phải bao giờ cũng là người đi thực hiện việc khiếu nại, ký tên trong đơn khiếu nại. Và người thực hiện việc khiếu nại, ký tên trong đơn khiếu nại không phải lúc nào cũng là người khiếu nại.


Vì vậy cho nên, người khiếu nại và người thực hiện khiếu nại có thể khác nhau.


Người ký tên trong đơn khiếu nại cũng sẽ khác nhau tùy theo từng trường hợp nhất định. Những ví dụ và các trường hợp sau sẽ làm rõ vấn đề này:


+ Nếu người khiếu nại trong trường hợp là: người chưa đủ 18 tuổi, người bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác và không thể làm chủ hành vi của mình - thì có thể thông qua người đại diện theo pháp luật (thông thường và dễ hiểu là: cha, mẹ, vợ, chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột của người khiếu nại – tất nhiên những người này phải đủ năng lực hành vi – tức là đủ 18 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần) thực hiện việc khiếu nại.


Ví dụ: Nhà nước có chính sách hổ trợ hàng tháng là 80 ngàn đồng cho những người bị mắc bệnh tâm thần, không có khả năng lao động. Chị A bị mắc bệnh tâm thần, nhưng UBND xã lại “bỏ sót” không cấp tiền cho chị A. Lúc này, chị A là người có quyền khiếu nại. Nhưng chị A bị mắc bệnh tâm thần và không có chồng, cha mẹ đã chết. Ông B là anh ruột của chị A. Lúc này, ông B làm đơn khiếu nại – là đúng pháp luật.


Trong trường hợp trên: chị A là người khiếu nại chứ không phải ông B; người thực hiện việc khiếu nại là ông B. Và trong trường hợp trên, người ký tên trong đơn khiếu nại là ông B.


Nếu rơi vào trường hợp tương tự, thì trong đơn phải ghi rõ họ, tên, số chứng minh nhân dân của cả người khiếu nại và người thực hiện việc khiếu nại. Tức là phải ghi:


“- Người khiếu nại: TRẦN THỊ A, sinh ngày:…, thường trú…., cứ trú….; chứng minh nhân dân số:... .


- Người thực hiện việc khiếu nại: TRẦN VĂN B, sinh ngày… , thường trú…, cư trú…; chứng minh nhân dân số…., là em ruột của chị TRẦN THỊ A”.


+ Trong trường hợp người khiếu nại ốm đau, già yếu, có nhược điểm về thể chất hoặc vì lý do khách quan khác mà không thể tự mình khiếu nại thì được ủy quyền cho cha, mẹ, vợ, chồng, anh ruột, chị ruột, em ruột, con đã thành niên hoặc người khác để khiếu nại.


Trong trường hợp này phải có giấy ủy quyền khiếu nại. Và trong đơn cũng phải ghi rõ: người khiếu nại; và người được ủy quyền khiếu nại. Trong một số trường hợp nhất định, người được ủy quyền khiếu nại là chủ thể ký vào đơn khiếu nại.


Lưu ý: cần phân biệt rõ giữa hai khái niệm: “người thực hiện quyền khiếu nại” – tức là chủ thể có quyền khiếu nại – người khiếu nại; với: “người thực hiện khiếu nại” – là người hành động trực tiếp làm các thủ tục khiếu nại.


2. Khiếu nại cái gì?


Liên quan trực tiếp nhất đến bà con: Khiếu nại là khiếu nại quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong cơ quan hành chính nhà nước trong quá trình thực hiện điều hành – quản lý hành chính nhà nước.


Nói một cách dân dã và dễ hiểu – dù nó “sai”: là tất cả các văn bản, các hành vi thuộc nhiệm vụ công – công quyền, thi hành nhiệm vụ, thực hiện nhiệm vụ công quyền, với tư cách công quyền.


Bà con cứ hiểu đơn giản như vậy. Còn mọi văn bản, hành vi không mang tư cách công quyền, thì thuộc lĩnh vực dân sự hay lĩnh vực khác – không phải là đối tượng của khiếu nại.


+ Vậy nên, khiếu nại là khiếu nại quyết định, hành vi, chứ không khiếu nại “con người”; khiếu nại đến “chức danh” chứ không “khiếu nại” đến con người.


Ví dụ: Công chức Tư pháp, Hộ tịch của xã không khai sinh cho con bạn; dù bạn có đủ điều kiện, giấy tờ, sự kiện. Bạn khiếu nại việc này là khiếu nại “hành vi hành chính” của Công chức Tư Pháp, Hộ tịch và gửi khiếu nại đến Chủ tịch UBND.


Hôm sau, cũng chính Công chức Tư pháp, Hộ tịch này ra chợ và mua “quỵt” của bạn món hàng là 500 ngàn đồng để làm giỗ cho bố anh ta. Thì đây là hành vi không mang tính “công quyền”, không với tư cách công quyền. Nên bạn nếu có yêu cầu, làm đơn để “đòi nợ”, thì bạn phải ghi tên ông công chức này, với tư cách một công dân bình thường. Nó không phải là “khiếu nại”.


+ Có thể liệt kê một số quyết định hành chính thường gặp mà bà con có thể khiếu nại như sau: quyết định giao đất, quyết định cấp hay không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyết định xử phạt vi phạm hành chính, quyết định cưỡng chế.


+ Có thể khái quát hành vi hành chính thường gặp mà bà con có thể khiếu nại như sau: không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật về các quyền và nghĩa vụ của bà con khi bà con yêu cầu thực hiện dù có đủ điều kiện, như: không làm giấy khai sinh, khai tử; không thực hiện việc đăng ký kinh doanh cho hộ kinh doanh cá thể; không thực hiện các chính sách trợ cấp, hỗ trợ theo đúng các quy định của pháp luật; không giải quyết các đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất….


3. Ai có thẩm quyền nhận đơn và giải quyết khiếu nại?


Nói cho đúng ngôn ngữ pháp lý và quy định pháp luật thì rất khó hiểu.


Vậy nên, bà con chỉ cần nhớ là:


+ Thứ nhất: đối với những vấn đề gì bà con thấy liên quan trực tiếp đến UBND xã, thì cứ gửi đơn khiếu nại đến Chủ tịch UBND xã.


+ Thứ hai: nếu bà con không biết về thẩm quyền giải quyết, chẳng biết gửi đơn khiếu nại cho ai, ở đâu, thì bà con cứ đến thẳng Mặt trận Tổ quốc. Tại đây, bà con cứ trình bày vấn đề của mình, cán bộ, công chức Mặt trận sẽ hướng dẫn bà con cách viết đơn cho đúng pháp luật, rõ ràng, hợp lý. Rồi họ sẽ trực tiếp gửi đơn giúp bà con; họ còn giám sát, đôn đốc và đề nghị chủ thể có thẩm quyền phải báo cáo việc giải quyết khiếu nại cho bà con để họ biết nữa.


Vậy nên, bà con cần phải nhớ một điều thế này: Cứ có vấn đề gì bức xúc về chính quyền, bà con cứ đến thẳng Mặt trận Tổ quốc mà trình bày.


4. Được quyền khiếu nại khi nào?


Bà con cần nhớ đơn giản và thực hiện như thế này:


+ Quyết định hành chính đó có và đã đưa đến cho người dân rồi bà con mới khiếu nại; (đừng nghe tin đồn).


+ Phải thực tế có hành vi hành chính thực hiện rồi bà con mới được quyền khiếu nại;


+ Bà con phải nhanh chóng thực hiện việc khiếu nại càng sớm càng tốt; thời hiệu khiếu nại là 90 ngày kể từ ngày – tức là bà con chỉ cần nhớ - bà con phải khiếu nại trước 90 kể từ ngày quyết định hành chính đó đến tay người dân và bà con biết về thực tế có hành vi hành chính. Nếu hết thời gian này, về mặt nguyên tắc, bà con sẽ mất quyền khiếu nại.


Vì vậy cho nên, khi bà con biết đã có quyết định hay hành vi thì phải thực hiện khiếu nại ngay, càng sớm càng tốt; đừng nấn ná để chậm trễ.





5. Để đơn được thụ lý, thì phải đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 5 của Thông tư Số 04/2010/TT-TTCP. Bà con cần nhớ:


- Đơn có chữ viết là tiếng Việt và được người khiếu nại, người tố cáo, người phản ánh, kiến nghị ký tên trực tiếp;


- Đơn khiếu nại phải ghi rõ ngày, tháng, năm khiếu nại; họ, tên, địa chỉ của người khiếu nại; tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức, cá nhân bị khiếu nại; nội dung, lý do khiếu nại và yêu cầu của người khiếu nại. Đơn tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ người tố cáo; nội dung tố cáo; cơ quan, tổ chức, cá nhân bị tố cáo. Đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo phải ghi rõ họ, tên, địa chỉ của người phản ánh, kiến nghị; nội dung phản ánh, kiến nghị.


- Đơn chưa được cơ quan tiếp nhận đơn xử lý theo quy định của pháp luật hoặc đã được xử lý theo quy định của pháp luật nhưng người khiếu nại, người tố cáo người phản ánh, kiến nghị cung cấp được tài liệu, chứng cứ mới.


6. Các thời hạn trong quá trình giải quyết khiếu nại lần đầu:


+ Bà con nên nhớ dù bà con gửi đơn đúng địa điểm hay không đúng địa điểm, đơn đúng hay không đúng, thì thời gian chờ đợi tối đa của bà con là bà con cứ ước chừng 15 – 20 ngày (theo pháp luật quy định thì là 10 ngày kể từ ngày họ nhận được đơn và thuộc thẩm quyền giải quyết). Trong thời gian này, nếu họ không có thông báo về việc đã nhận và sẽ xem xét giải quyết hay đơn của bà con gửi không đúng hay sai và lý do; thì bà con cứ lên trực tiếp nơi đã gửi đơn để hỏi cho rõ.


+ Thời hạn tối đa để giải quyết đơn khiếu nại lần đầu của bà con là 30 ngày (hoặc 45 ngày; hoặc 60 ngày) kể từ ngày thụ lý. Nhưng bà con cứ hết 30 sau ngày họ thông báo thụ lý cho bà con mà thấy vẫn không giải quyết thí cứ lên hỏi cho chắc ăn.


7. Các thời hạn trong quá trình giải quyết khiếu nại lần hai:


+ Bà con cứ thấy ước chừng khoảng hết 45 ngày mà không thấy có “rục rịch” hoặc có quyết định giải quyết mà bà con không hài lòng thì lập tức làm đơn khiếu nại lần hai (hoặc đâm đơn khởi kiện ra tòa)


+ Bà con phải thực hiện việc khiếu nại lần hai hoặc khởi kiện ngay trong vòng 30 ngày kể từ khi bà con chờ hết 30 ngày hoặc 45 ngày cho khiếu nại lần đầu. Nói chung là: ngay khi không được giải quyết hoặc giải quyết mà bà con thấy không hài lòng thì đâm đơn khiếu nại hoặc khởi kiện lần hai ngay. Không được chần chừ, để lâu.


+ Thời hạn thông báo có thụ lý hay không thụ lý giải quyết khiếu nại lần hai: thì bà con chỉ cần nhớ là sau khoảng 10 – 11 ngày sau ngày bà con gửi đơn đúng địa điểm. Nếu quá mà không thấy “rục rịch” thì phải đến mà hỏi cho rõ.


+ Còn về thời hạn giải quyết khiếu nại lần hai bà con chỉ cần nhớ là tối đa không quá 45 ngày kể từ ngày thụ lý. Hết thời gian này, hoặc tốt nhất là gần hết, bà con cứ lên hỏi cho chắc. Nếu họ thờ ơ thì bà con về làm đơn để khởi kiện ra Tòa (phải trong vòng 30 ngày sau).


Vậy, để đơn được thụ lý và giải quyết dù lần đầu hay lần hai, nói chung lại, bà con chỉ cần nhớ những điều sau đây:


+ Muốn cho chắc ăn, bà con cứ đến Mặt trận Tổ quốc để trình bày, bà con sẽ được hướng dẫn cụ thể;


+ Phải ghi rõ họ, tên, CMND, thường trú và những nội dung nhất định phải có như trong phần 5. Nhất định là không được làm đơn “nặc danh”;


+ Mỗi người viết một đơn, không được làm “đơn tập thể”;


+ Khiếu nại càng nhanh càng tốt – bà con nên nhớ 2 con số: tối đa là 90 ngày; tối đa là 30 ngày;


+ Không nên khiếu nại “vượt cấp” – cứ đến Mặt trận, sẽ được hướng dẫn cụ thể - bà con cứ đến trình bày tại UBND xã trước đã. Cứ chờ cho hết 30 hay 45 ngày cho lần đầu mà thấy không giải quyết hoặc đã giải quyết mà bà con không hài lòng thì hãy khiếu nại lần hai hay khởi kiện.


+ Nếu không đến Mặt trận, bà con nên tìm những người am hiểu kiến thức pháp luật và có uy tín để họ tư vấn và hướng dẫn viết đơn cho đúng; hành động cho đúng.


+ Nếu bà con thấy “nóng ruột”, thì cứ đến Mặt trận hay những người hiểu biết để họ tư vấn. Và thỉnh thoảng bà con cũng nên ghé đến UBND hoặc nơi gửi đơn để “nhắc cho họ nhớ” dù họ có “nói những lời khó nghe” và tốn công cũng “kệ.
HỐ KHÔ!

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỀ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI (Phần I)

NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN NẮM VỀ PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI (Phần I)
1. Chính sách của nhà nước đối với vấn đề “đòi lại đất” (xem khoản 1 Điều 4 Nghị định 181):


Nhà nước không thừa nhận việc đòi lại đất và không xem xét giải quyết khiếu nại về việc đòi lại đất mà Nhà nước đã giao cho người khác sử dụng theo các chính sách ruộng đất trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 trong các trường hợp sau:


+ Đất bị tịch thu, trưng thu, trưng mua khi thực hiện cải cách ruộng đất ở miền Bắc; chính sách xoá bỏ triệt để tàn tích chiếm hữu ruộng đất và các hình thức bóc lột thực dân, phong kiến ở miền Nam;


+ Đất đã hiến tặng cho Nhà nước, cho hợp tác xã và tổ chức khác, cho hộ gia đình, cá nhân;


+ Đất đã góp vào hợp tác xã nông nghiệp theo quy định của Điều lệ hợp tác xã nông nghiệp bậc cao;


+ Đất thổ cư mà Nhà nước đã giao cho người khác để làm đất ở; đất ở và đất vườn đã giao lại cho hợp tác xã để đi khai hoang; ruộng đất đã bị thu hồi để giao cho người khác hoặc điều chỉnh cho người khác khi giải quyết tranh chấp ruộng đất;


+ Đất đã chia cho người khác khi hưởng ứng cuộc vận động san sẻ bớt một phần ruộng đất để chia cho người không có ruộng và thiếu ruộng tại miền Nam sau ngày giải phóng.


( con à! “Đụng tới đất… là đai !” ; đất của ông cha để lại, ai mà không xót, không tiết. Nhưng do ảnh hưởng của lịch sử, nhiều vấn đề liên quan đến tính « công bằng » và « bác ái », « hợp tình » ; bà con mình có trường hợp liên quan đến những vấn đề này, cũng mong bà con « cố gắng » tự đặt mình vào vị trí của người đang sử dụng và nhà nước để « cố gắng » thông cảm giùm cho Nhà nước ! Kính !).











2. Phân loại đất:


Đất đai được phân loại theo các nhóm như sau (xem khoản 3,4,5,6 Điều 6 Nghị định 181):


a) Nhóm đất nông nghiệp;


b) Nhóm đất phi nông nghiệp;


c) Nhóm đất chưa sử dụng.


Nhóm đất nông nghiệp (hiện nay được “miễn thuế sử dụng đất nông nghiệp” và khi “giao đất nông nghiệp trong hạn mức” là “giao không thu tiền sử dụng đất”) được chia thành các phân nhóm sau:


a) Đất sản xuất nông nghiệp bao gồm đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm.


Đất trồng cây hàng năm bao gồm đất trồng lúa, đất đồng cỏ dùng vào chăn nuôi, đất trồng cây hàng năm khác;


b) Đất lâm nghiệp bao gồm đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng;


c) Đất nuôi trồng thuỷ sản;


d) Đất làm muối;


đ) Đất nông nghiệp khác.


Đất nông nghiệp khác là đất tại nông thôn sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất; xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, làm muối, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống; xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.


Nhóm đất phi nông nghiệp (Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã chính thức có hiệu lực vào ngày 1/1/2012) được chia thành các phân nhóm sau:


a) Đất ở bao gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị;


b) Đất chuyên dùng bao gồm đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp; đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp; đất sử dụng vào mục đích công cộng.


Đất sử dụng vào mục đích công cộng là đất sử dụng vào mục đích xây dựng công trình đường giao thông, cầu, cống, vỉa hè, cảng đường thuỷ, bến phà, bến xe ô tô, bãi đỗ xe, ga đường sắt, cảng hàng không; hệ thống cấp nước, hệ thống thoát nước, hệ thống công trình thuỷ lợi, đê, đập; hệ thống đường dây tải điện, hệ thống mạng truyền thông, hệ thống dẫn xăng, dầu, khí; đất sử dụng làm nhà trẻ, trường học, bệnh viện, chợ, công viên, vườn hoa, khu vui chơi cho trẻ em, quảng trường, sân vận động, khu an dưỡng, khu nuôi dưỡng người già và trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, cơ sở tập luyện thể dục - thể thao, công trình văn hoá, điểm bưu điện - văn hoá xã, tượng đài, bia tưởng niệm, nhà tang lễ, câu lạc bộ, nhà hát, bảo tàng, triển lãm, rạp chiếu phim, rạp xiếc, cơ sở phục hồi chức năng cho người khuyết tật, cơ sở dạy nghề, cơ sở cai nghiện ma tuý, trại giáo dưỡng, trại phục hồi nhân phẩm; đất có di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được xếp hạng hoặc được Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quyết định bảo vệ; đất để chất thải, bãi rác, khu xử lý chất thải;


c) Đất tôn giáo, tín ngưỡng bao gồm đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng; đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường,nhà thờ họ;


d) Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;


đ) Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;


e) Đất phi nông nghiệp khác.


Đất phi nông nghiệp khác là đất có các công trình thờ tự, nhà bảo tàng, nhà bảo tồn, nhà trưng bầy tác phẩm nghệ thuật, cơ sở sáng tác văn hoá nghệ thuật và các công trình xây dựng khác của tư nhân không nhằm mục đích kinh doanh mà các công trình đó không gắn liền với đất ở; đất làm nhà nghỉ, lán, trại cho người lao động; đất tại đô thị sử dụng để xây dựng nhà kính và các loại nhà khác phục vụ mục đích trồng trọt kể cả các hình thức trồng trọt không trực tiếp trên đất, xây dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm và các loại động vật khác được pháp luật cho phép, xây dựng trạm, trại nghiên cứu thí nghiệm nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, xây dựng cơ sở ươm tạo cây giống, con giống, xây dựng kho, nhà của hộ gia đình, cá nhân để chứa nông sản, thuốc bảo vệ thực vật, phân bón, máy móc, công cụ sản xuất nông nghiệp.


Nhóm đất chưa sử dụng được chia thành các loại đất sau:


a) Đất bằng chưa sử dụng;


b) Đất đồi núi chưa sử dụng;


c) Núi đá không có rừng cây.








3. Căn cứ xác định loại đất, mục đích sử dụng đất


Loại đất, mục đích sử dụng đất của mỗi thửa đất được xác định theo một trong các căn cứ sau:


a) Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;


b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho người đang sử dụng đất được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất;


c) Đăng ký chuyển mục đích sử dụng đất phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đối với trường hợp không phải xin phép chuyển mục đích sử dụng đất; (Chú ý: hiện nay Luật thuế sử dụng đất phi nông nghiệp đã có hiệu lực (từ 1/1/20120; vì vậy cho nên; bà con cần cân nhắc khi quyết định làm đơn đề nghị “chuyển mục địch sử dụng đất từ đất vườn, đất ao, hồ lên đất thổ cư; vì sau khi chuyển, bà con phải nọp thuế và đặt biệt bà con phải trả 50% khoảng tiền giao đất) (Bà con cũng nên chú ý là để được chuyển, mãnh đất đó phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch). (Bà con cũng cần chú ý xem quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước trước khi quyết định “mua – chuyển nhượng quyền sử dụng đất” của đất đang là đất nông nghiệp, đất vườn để “làm nhà, công trình”. Vì khi bà con tiến hành “chuyển mục đích sử dụng đất” – như trên đã nói – sẽ rất phức tạp, tốn công và tốn tiền).


d) Đất đang sử dụng ổn định phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt;


đ) Đối với trường hợp chưa có căn cứ quy định tại các điểm a, b, c và d khoản này thì căn cứ vào hiện trạng sử dụng đất ổn định, Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh xác định loại đất, mục đích sử dụng đất.


Ngoài mục đích sử dụng đất chính đã được xác định theo quy định tại khoản 1 Điều này, người sử dụng đất được sử dụng kết hợp vào các mục đích khác nhưng không làm ảnh hưởng đến mục đích sử dụng chính và không trái với quy định của pháp luật về đất đai.








4. Bà còn được đăng ký quyền sử dụng đất khi nào:


con cần nắm rõ Nghị định Số 88/2009/NĐ-CP của Chính phủ về “Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất).


Theo quy định tại Điều 7 Nghị định 88, và tổng hợp các quy định “tham chiếu” khác, được liệt kê như sau:


Người sử dụng đất được chứng nhận quyền sử dụng đất nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8 và 9 Điều 49 và những vấn đề của Điều 50 Luật Đất đai, cụ thể:


“Điều 49. Những trường hợp được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất


Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho những trường hợp sau đây:


1. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, trừ trường hợp thuê đất nông nghiệp sử dụng vào mục đích công ích của xã, phường, thị trấn;


2. Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;


3. Người đang sử dụng đất theo quy định tại Điều 50 và Điều 51 của Luật này mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;


4. Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất; người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ; tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất;


5. Người được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án hoặc quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành;


6. Người trúng đấu giá quyền sử dụng đất, đấu thầu dự án có sử dụng đất;


7. Người sử dụng đất quy định tại các điều 90, 91 và 92 của Luật này;


8. Người mua nhà ở gắn liền với đất ở;


9. Người được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.


Điều 50. Cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư đang sử dụng đất (Bà con chú ý! Phải đọc thật kỹ lưỡng điều này!)


1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định, được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận không có tranh chấp mà có một trong các loại giấy tờ sau đây thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất:


a) Những giấy tờ về quyền được sử dụng đất đai trước ngày 15 tháng 10 năm 1993 do cơ quan có thẩm quyền cấp trong quá trình thực hiện chính sách đất đai của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam và Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam;


b) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tạm thời được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp hoặc có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ địa chính;


c) Giấy tờ hợp pháp về thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất hoặc tài sản gắn liền với đất; giấy tờ giao nhà tình nghĩa gắn liền với đất;


d) Giấy tờ chuyển nhượng quyền sử dụng đất, mua bán nhà ở gắn liền với đất ở trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đã sử dụng trước ngày 15 tháng 10 năm 1993;


đ) Giấy tờ về thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở theo quy định của pháp luật;


e) Giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền thuộc chế độ cũ cấp cho người sử dụng đất.


2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có một trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này mà trên giấy tờ đó ghi tên người khác, kèm theo giấy tờ về việc chuyển quyền sử dụng đất có chữ ký của các bên có liên quan, nhưng đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành chưa thực hiện thủ tục chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.


3. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có hộ khẩu thường trú tại địa phương và trực tiếp sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, làm muối tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn ở miền núi, hải đảo, nay được Uỷ ban nhân dân xã nơi có đất xác nhận là người đã sử dụng đất ổn định, không có tranh chấp thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.


4. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng ổn định từ trước ngày 15 tháng 10 năm 1993, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và không phải nộp tiền sử dụng đất.


5. Hộ gia đình, cá nhân được sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của Toà án nhân dân, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được thi hành thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau khi thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.


6. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có các loại giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này nhưng đất đã được sử dụng từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành, nay được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn xác nhận là đất không có tranh chấp, phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được xét duyệt đối với nơi đã có quy hoạch sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và phải nộp tiền sử dụng đất theo quy định của Chính phủ.


7. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất được Nhà nước giao đất, cho thuê đất từ ngày 15 tháng 10 năm 1993 đến trước ngày Luật này có hiệu lực thi hành mà chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trường hợp chưa thực hiện nghĩa vụ tài chính thì phải thực hiện theo quy định của pháp luật.


8. Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có các công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây:


a) Có đơn đề nghị xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất;


b) Được Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng và không có tranh chấp.








5. Vai trò và yêu cầu của từng loại giấy tờ “cũ kỹ” và các giấy tờ khác liên quan đến việc “đăng ký quyền sử dụng đất”


+ Bà con cần “lưu giữ kỹ lưỡng” và “truy lùng” những loại giấy tờ “cũ kỹ” rất cần thiết cho việc “đăng ký quyền sử dụng đất”, đó là: “Trích lục” từ thời Pháp thuộc; “Chứng thư kiến điền” của chế độ cũ; “Sổ AK3, AK4” để làm căn cứ chứng minh cho tính “hợp pháp” và thực trạng sử dụng đất của mình.


+ Bà con chú ý là: Mọi loại văn bản có liên quan đến việc định đoạt quyền sử dụng đất (như: hợp đồng tặng cho; di chúc; hợp đồng chuyển nhượng; hợp đồng chuyển đổi; thỏa thuận của anh em trong nhà về di sản thừa kế của cha mẹ; biên bản từ chối nhận thừa kế là quyền sử dụng đất) đều nên và phải đem đi “công chứng, chứng thực” tại “Phòng công chứng” cấp huyện ngay. Khi các văn bản này vừa ra đời là phải đề nghị “công chứng, chứng thực” ngay, không để “đêm dài lắm mộng”. Đây là điều kiện rất cơ bản để bà con “đăng ký quyền sử dụng đất” và bảo vệ quyền lợi cho bản thân mình.








6. Bà con phải đăng ký quyền sử dụng đất ở đâu:


+ Về mặt nguyên tắc: đối với hộ gia đình và cá nhân (không có yếu tố nước ngoài), thì thẩm quyền đăng ký quyền sử dụng đất thuộc về UBND cấp huyện; và cơ quan trực tiếp phụ trách giải quyết là “Phòng đăng ký quyền sử dụng đất” trong “Phòng tài nguyên, môi trường” của UBND cấp huyện.


+ Trong thực tế, bà con cứ nói “Xã cấp giấy”, “Xã cấp đất”, nhưng trên thưc tế và pháp lý, “UBND” xã không có thẩm quyền này.


+ Tuy nhiên, để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; thì bao giờ cũng cần có sự xác nhận, xác thực của chính quyền cấp xã. Vì vậy cho nên, bà con cứ làm đủ hồ sơ và giấy tờ, rồi đem nộp cho Công chức Địa chính, Xây dựng tại UBND xã. Họ sẽ xem xét trước, đề nghị và hướng dẫn bà con hoàn chỉnh hồ sơ cho đúng quy định của pháp luật; và họ cũng tự bổ sung những văn bản xác nhận, xác thực cần thiết. Họ sẽ chuyển hồ sơ của bà con đến “Phòng đăng ký quyền sử dụng đất” cấp huyện; khi mọi việc xong xuôi, “Phòng đăng ký quyền sử dụng đất” cấp huyện sẽ gửi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất về UBND xã; và bà con đến đây để nhận. (Đây cũng là lý do khiến bà con thường hay “nhầm tưởng” là “xã cấp giấy, xã cấp đất”).


+ Đối với việc đăng ký quyền sử dụng đất cho pháp nhân, tổ chức kinh doanh, dự án đầu tư, cơ sở tôn giáo, hay có yếu tố nước ngoài (người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài, tổ chức nước ngoài): Thì cơ quan có thẩm quyền sẽ thuộc về UBND cấp tỉnh, cụ thể là Sở Tài nguyên, Môi trường, mà Cơ quan phụ trách chuyên môn việc này thường là “Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất” thuộc Sở Tài nguyên, Môi trường.


Lưu ý: Bà con cần chú ý là, khi có ai đó đi đăng ký quyền sử dụng đất, mà xâm hại đến diện tích đất của mình, thì bà con phải phản ánh ngay với Công chức Địa chính, Xây dựng tại xã. Nếu họ đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi, mà xâm hại đến diện tích đất hợp pháp của bà con, thì bà con phải nhanh chóng “khiếu nại” ngay tức thì (bà con nhớ con số 90 ngày trong phần về khiếu nại, tố cáo). Nếu để lâu, sẽ mất quyền khiếu nại, rất có hại.








7. Thời gian chờ đợi được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là bao lâu:


+ Đây là vấn đế rất khó xác định đúng về mặt thực tế. Vì vấn đề đất đai là vấn đề hết sức phực tạp và “nhạy cảm”. Có người, theo đuổi đến 3, 5 năm mà vẫn chưa được cấp giấy chứng nhận. Điều này tùy thuộc vào độ đơn giản hay phức tạp của vụ việc.


+ Tuy nhiên, cũng cung cấp cho bà con một số quy định của pháp luật về thời hạn tối đa của vấn đề này (bà con có thể tham khảo Điều 12 Nghị định Số 88/2010/NĐ-CP) để bà con có sơ sở tiến hành khiếu nại về hành vi hành chính; và dự trù thời gian khiếu nại về quyết định hành chính:


Thời gian thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ được quy định như sau:


1. Không quá năm mươi (50) ngày làm việc đối với trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu.


2. Không quá ba mươi (30) ngày làm việc đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà có nhu cầu bổ sung chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất hoặc cấp lại Giấy chứng nhận bị mất.


3. Không quá hai mươi (20) ngày làm việc đối với trường hợp cấp đổi Giấy chứng nhận không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.


4. Thời gian quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều này không kể thời gian công khai kết quả thẩm tra, thời gian thực hiện nghĩa vụ tài chính, thời gian trích đo địa chính thửa đất.


5. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định cụ thể thời gian thực hiện các thủ tục cấp Giấy chứng nhận quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này”.








8. Hồ sơ để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cần có những gì?


Bà con phải chịu khó đọc kỹ các Điều sau đây được quy định trong Nghị định Số 88/2010/NĐ-CP của chính phủ để tìm thấy trường hợp của mình:


Điều 14. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp thửa đất không có tài sản gắn liền với đất hoặc có tài sản nhưng không có nhu cầu chứng nhận quyền sở hữu hoặc có tài sản nhưng thuộc quyền sở hữu của chủ khác


1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm:


a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);


c) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đai theo quy định của pháp luật (nếu có).


2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:


a) Kiểm tra, xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận về tình trạng tranh chấp quyền sử dụng đất; trường hợp không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 của Luật Đất đai thì kiểm tra, xác nhận về nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng đã được xét duyệt.


Trường hợp chưa có bản đồ địa chính thì trước khi thực hiện các công việc tại điểm này, Ủy ban nhân dân xã, thị trấn phải thông báo cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện thực hiện trích đo địa chính thửa đất;


b) Công bố công khai kết quả kiểm tra tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai;


c) Gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện nơi có đất để thực hiện các công việc quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều này.


3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các nội dung công việc sau:


a) Gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo yêu cầu quy định tại các điểm a và b khoản 2 Điều này đối với trường hợp nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện;


b) Kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác nhận đủ điều kiện hay không đủ điều kiện được chứng nhận về quyền sử dụng đất vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


c) Chuẩn bị hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (đối với nơi chưa có bản đồ địa chính) để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận và ký hợp đồng thuê đất đối với trường hợp được Nhà nước cho thuê đất;


d) Trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy, trường hợp nộp hồ sơ tại xã, thị trấn thì gửi Giấy chứng nhận cho Ủy ban nhân dân xã, thị trấn để trao cho người được cấp giấy.


Điều 15. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp tài sản gắn liền với đất mà chủ sở hữu không đồng thời là người sử dụng đất


1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:


a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


b) Trường hợp chứng nhận quyền sở hữu nhà ở thì nộp giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại các khoản 1, 2 và 4 Điều 8 của Nghị định này; trường hợp chứng nhận quyền sở hữu công trình xây dựng thì nộp giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại các khoản 1 và 3 Điều 9 của Nghị định này; trường hợp chứng nhận quyền sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng thì nộp một trong các giấy tờ về quyền sở hữu rừng cây quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và giấy tờ tại khoản 7 Điều 10 của Nghị định này;


c) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);


d) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại điểm b khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).


2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc sau đây:


a) Kiểm tra, xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận về tình trạng tranh chấp quyền sở hữu tài sản;


b) Kiểm tra, xác nhận vào sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng đã có xác nhận của tổ chức có tư cách pháp nhân về hoạt động xây dựng hoặc hoạt động đo đạc bản đồ);


c) Công bố công khai kết quả kiểm tra hồ sơ tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã, thị trấn trong thời hạn 15 ngày, xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai;


d) Gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để thực hiện các công việc quy định tại các điểm b, c và d khoản 3 Điều này.


3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các nội dung công việc sau:


a) Gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp xã để lấy ý kiến xác nhận và công khai kết quả theo yêu cầu quy định tại các điểm a, b và c khoản 2 Điều này đối với trường hợp nộp hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện;


b) Kiểm tra hồ sơ, xác minh thực địa trong trường hợp cần thiết; xác định đủ điều kiện hay không đủ điều kiện chứng nhận quyền sở hữu tài sản và xác nhận vào đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận.


Trường hợp cần xác minh thêm thông tin về điều kiện chứng nhận quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất thì Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất gửi phiếu lấy ý kiến cơ quan quản lý về nhà ở, công trình xây dựng, cơ quan quản lý nông nghiệp cấp huyện. Trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được phiếu lấy ý kiến, cơ quan quản lý về nhà ở, công trình xây dựng, cơ quan quản lý nông nghiệp có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;


c) Chuẩn bị hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất (nơi chưa có bản đồ địa chính) để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận;


d) Trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy, trường hợp nộp hồ sơ tại xã, thị trấn thì gửi Giấy chứng nhận cho Ủy ban nhân dân xã, thị trấn để trao cho người được cấp giấy.


Điều 16. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng


1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:


a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);


c) Giấy tờ về quyền sở hữu nhà ở theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 8 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là nhà ở;


d) Giấy tờ về quyền sở hữu công trình xây dựng theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Nghị định này đối với trường hợp tài sản là công trình xây dựng;


đ) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có);


e) Sơ đồ nhà ở hoặc công trình xây dựng (trừ trường hợp trong giấy tờ quy định tại các điểm b, c và d khoản này đã có sơ đồ nhà ở, công trình xây dựng).


2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 15 của Nghị định này.


3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 14 và khoản 3 Điều 15 của Nghị định này.


Điều 17. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người sử dụng đất đồng thời là chủ sở hữu rừng sản xuất là rừng trồng


1. Người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp một (01) bộ hồ sơ gồm có:


a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


b) Một trong các loại giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại các khoản 1, 2 và 5 Điều 50 Luật Đất đai (nếu có);


c) Một trong các giấy tờ về quyền sở hữu rừng cây theo quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 10 của Nghị định này;


d) Bản sao các giấy tờ liên quan đến việc thực hiện nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật (nếu có).


2. Trường hợp người đề nghị cấp Giấy chứng nhận nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân xã, thị trấn thì Ủy ban nhân dân xã, thị trấn có trách nhiệm thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 2 Điều 14 và khoản 2 Điều 15 của Nghị định này.


3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm thực hiện các công việc theo quy định tại khoản 3 Điều 14 và khoản 3 Điều 15 của Nghị định này.


Điều 18. Hồ sơ và trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận cho người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và quyền sở hữu nhà ở, công trình xây dựng của tổ chức đầu tư xây dựng để bán


1. Tổ chức đầu tư xây dựng nhà ở, công trình xây dựng để bán thay mặt bên nhận chuyển nhượng nộp một (01) bộ hồ sơ tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất trực thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, hồ sơ gồm:


a) Đơn đề nghị cấp Giấy chứng nhận;


b) Hợp đồng mua bán nhà ở, công trình xây dựng;


c) Bản sao quyết định phê duyệt dự án hoặc quyết định đầu tư hoặc giấy phép đầu tư hoặc giấy chứng nhận đầu tư;


d) Bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500 của dự án (trường hợp không có bản sao quyết định phê duyệt quy hoạch này thì phải có bản sao văn bản thỏa thuận tổng mặt bằng của khu đất có nhà ở, công trình xây dựng);


đ) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận theo quy định của Nghị định này;


e) Bản sao chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính của chủ đầu tư (trừ trường hợp được miễn hoặc chậm nộp theo quy định của pháp luật);


g) Bản sao chứng từ thực hiện nghĩa vụ tài chính của bên mua (nếu có);


h) Sơ đồ nhà, đất là bản vẽ mặt bằng hoàn công hoặc bản vẽ thiết kế mặt bằng phù hợp với hiện trạng nhà ở, công trình xây dựng mà không đo vẽ lại; trường hợp nhà chung cư thì có bản vẽ mặt bằng xây dựng ngôi nhà chung cư, bản vẽ mặt bằng của tầng nhà có căn hộ, trường hợp bản vẽ mặt bằng của tầng nhà không thể hiện rõ kích thước của căn hộ thì phải có bản vẽ mặt bằng của căn hộ đó;


i) Đối với địa phương đã có sàn giao dịch bất động sản thì những trường hợp chuyển nhượng từ ngày Nghị định này có hiệu lực thi hành phải có giấy tờ chứng minh việc nhận chuyển nhượng được thực hiện tại sàn giao dịch bất động sản.


Khi nộp bản sao các giấy tờ quy định các điểm c, d, e và g khoản này thì người nộp hồ sơ phải xuất trình bản gốc để cơ quan tiếp nhận hồ sơ kiểm tra, đối chiếu trừ trường hợp bản sao đã có công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật.


Trường hợp nhà đầu tư nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy chứng nhận đồng thời cho nhiều chủ sở hữu nhà ở, công trình xây dựng thì chỉ nộp một (01) bản đối với các giấy tờ quy định tại các điểm c, d, đ, e và h khoản này và danh mục nhà ở, căn hộ, công trình xây dựng và các phần sở hữu riêng khác đề nghị cấp Giấy chứng nhận.


2. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện các công việc sau:


a) Kiểm tra các giấy tờ pháp lý trong hồ sơ, trường hợp cần thiết thì gửi phiếu lấy ý kiến của cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng; trong thời hạn không quá năm (05) ngày làm việc kể từ ngày nhận được phiếu lấy ý kiến, cơ quan quản lý nhà ở, công trình xây dựng có trách nhiệm trả lời bằng văn bản cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất;


b) Kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, nếu phù hợp với bản vẽ quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án đã được duyệt và bản vẽ hoàn công công trình đã được duyệt (nếu có) thì chỉnh lý bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đối với nơi chưa có bản đồ địa chính để cấp Giấy chứng nhận.


Trường hợp hiện trạng sử dụng đất không phù hợp với bản vẽ quy hoạch xây dựng chi tiết của dự án đã được duyệt và bản vẽ hoàn công công trình đã được duyệt (nếu có) thì gửi kết quả kiểm tra đến cơ quan quản lý nhà nước về nhà ở, công trình xây dựng để xử lý theo quy định của pháp luật;


c) Gửi hồ sơ kèm theo trích lục bản đồ địa chính hoặc trích đo địa chính thửa đất đến Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện để cấp Giấy chứng nhận đối với trường hợp bên nhận chuyển nhượng là hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài; lập hồ sơ trình Sở Tài nguyên và Môi trường để cấp Giấy chứng nhận theo ủy quyền hoặc trình Ủy ban nhân dân cùng cấp ký Giấy chứng nhận đối với trường hợp bên nhận chuyển nhượng là tổ chức trong nước, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài; xác nhận thay đổi vào Giấy chứng nhận đã cấp của bên chuyển nhượng.


3. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp huyện có trách nhiệm lập hồ sơ để Phòng Tài nguyên và Môi trường trình cấp Giấy chứng nhận cho bên nhận chuyển nhượng là hộ gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở; gửi Giấy chứng nhận cho Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh.


4. Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất cấp tỉnh có trách nhiệm
trao Giấy chứng nhận cho người được cấp giấy.


5. Trường hợp cấp Giấy chứng nhận cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cá nhân nước ngoài được nhận quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam thì trong thời hạn năm (05) ngày làm việc kể từ ngày trao Giấy chứng nhận, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất có trách nhiệm lập danh sách gửi về Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Xây dựng để đưa lên trang Web của Bộ phục vụ yêu cầu quản lý”.











9. Sau đây tôi xin cung cấp cho bà con một số quy định – thông tin khởi đầu về vấn đề “Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp”:


+ Luật Thuế sử dụng đất phi nông nghiệp – Luật số 48/2010/QH12 chính thức có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012. Đây cũng là lý do vì sao thời gian gần đây, bà con được chính quyền yêu cầu nọp sổ đỏ và sổ hộ khẩu để kê khai gì đấy (và cũng sắp đến năm 2013 – hết 20 năm giao đất nông nghiệp sử dụng lâu dài, sẽ tiến hành giao lại – chia lại).


+ Bà con chú ý đọc kỹ những quy định sau, để có điều kiện thực hiện đúng nghĩa vụ cũng như bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân mình:


Điều 2. Đối tượng (tức là đất nào) phải chịu thuế


1. Đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.


2. Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp bao gồm: đất xây dựng khu công nghiệp; đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh; đất khai thác, chế biến khoáng sản; đất sản xuất vật liệu xây dựng, làm đồ gốm.


3. Đất phi nông nghiệp quy định tại Điều 3 của Luật này sử dụng vào mục đích kinh doanh.


Điều 3. Đối tượng (tức là đất nào?) không chịu thuế


Đất phi nông nghiệp sử dụng không vào mục đích kinh doanh bao gồm:


1. Đất sử dụng vào mục đích công cộng bao gồm: đất giao thông, thuỷ lợi; đất xây dựng công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng; đất có di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh; đất xây dựng công trình công cộng khác theo quy định của Chính phủ;


2. Đất do cơ sở tôn giáo sử dụng;


3. Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa;


4. Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng;


5. Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ;


6. Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp, đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh;


7. Đất phi nông nghiệp khác theo quy định của pháp luật.


Điều 4. Người nộp thuế (ai là người phải nọp thuế)


1. Người nộp thuế là tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này.


2. Trường hợp tổ chức, hộ gia đình, cá nhân chưa được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (sau đây gọi chung là Giấy chứng nhận) thì người đang sử dụng đất là người nộp thuế.


3. Người nộp thuế trong một số trường hợp cụ thể được quy định như sau:


a) Trường hợp được Nhà nước cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư thì người thuê đất là người nộp thuế;


b) Trường hợp người có quyền sử dụng đất cho thuê đất theo hợp đồng thì người nộp thuế được xác định theo thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng không có thoả thuận về người nộp thuế thì người có quyền sử dụng đất là người nộp thuế;


c) Trường hợp đất đã được cấp Giấy chứng nhận nhưng đang có tranh chấp thì trước khi tranh chấp được giải quyết, người đang sử dụng đất là người nộp thuế. Việc nộp thuế không phải là căn cứ để giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất;


d) Trường hợp nhiều người cùng có quyền sử dụng một thửa đất thì người nộp thuế là người đại diện hợp pháp của những người cùng có quyền sử dụng thửa đất đó;


đ) Trường hợp người có quyền sử dụng đất góp vốn kinh doanh bằng quyền sử dụng đất mà hình thành pháp nhân mới có quyền sử dụng đất thuộc đối tượng chịu thuế quy định tại Điều 2 của Luật này thì pháp nhân mới là người nộp thuế.


CHƯƠNG II


CĂN CỨ TÍNH THUẾ, ĐĂNG KÝ, KHAI, TÍNH VÀ NỘP THUẾ


Điều 5. Căn cứ tính thuế


Căn cứ tính thuế là giá tính thuế và thuế suất.


Điều 6. Giá tính thuế


1. Giá tính thuế đối với đất được xác định bằng diện tích đất tính thuế nhân với giá của 1m2 đất.


2. Diện tích đất tính thuế được quy định như sau:


a) Diện tích đất tính thuế là diện tích đất thực tế sử dụng.


Trường hợp có quyền sử dụng nhiều thửa đất ở thì diện tích đất tính thuế là tổng diện tích các thửa đất tính thuế.


Trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để xây dựng khu công nghiệp thì diện tích đất tính thuế không bao gồm diện tích đất xây dựng kết cấu hạ tầng sử dụng chung;


b) Đối với đất ở nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư bao gồm cả trường hợp vừa để ở, vừa để kinh doanh thì diện tích đất tính thuế được xác định bằng hệ số phân bổ nhân với diện tích nhà của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng.


Hệ số phân bổ được xác định bằng diện tích đất xây dựng nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư chia cho tổng diện tích nhà của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng.


Trường hợp nhà nhiều tầng nhiều hộ ở, nhà chung cư có tầng hầm thì 50% diện tích tầng hầm của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng trong tầng hầm được cộng vào tổng diện tích nhà của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng để tính hệ số phân bổ;


c) Đối với công trình xây dựng dưới mặt đất thì áp dụng hệ số phân bổ bằng 0,5 diện tích đất xây dựng chia cho tổng diện tích công trình của các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng.


3. Giá của 1m2 đất là giá đất theo mục đích sử dụng do Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định và được ổn định theo chu kỳ 5 năm, kể từ ngày Luật này có hiệu lực thi hành.


Về miễn (không phải nọp) thuế và giảm (nọp ít hơn so với quy định chung) thuế.


Điều 9. Miễn thuế


1. Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đất của doanh nghiệp sử dụng trên 50% số lao động là thương binh, bệnh binh.


2. Đất của cơ sở thực hiện xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường.


3. Đất xây dựng nhà tình nghĩa, nhà đại đoàn kết, cơ sở nuôi dưỡng người già cô đơn, người khuyết tật, trẻ mồ côi; cơ sở chữa bệnh xã hội.


4. Đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.


5. Đất ở trong hạn mức của người hoạt động cách mạng trước ngày 19/8/1945; thương binh hạng 1/4, 2/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 1/4, 2/4; bệnh binh hạng 1/3; anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân; mẹ Việt Nam anh hùng; cha đẻ, mẹ đẻ, người có công nuôi dưỡng liệt sỹ khi còn nhỏ; vợ, chồng của liệt sỹ; con của liệt sỹ được hưởng trợ cấp hàng tháng; người hoạt động cách mạng bị nhiễm chất độc da cam; người bị nhiễm chất độc da cam mà hoàn cảnh gia đình khó khăn.


6. Đất ở trong hạn mức của hộ nghèo theo quy định của Chính phủ.


7. Hộ gia đình, cá nhân trong năm bị thu hồi đất ở theo quy hoạch, kế hoạch được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt thì được miễn thuế trong năm thực tế có thu hồi đối với đất tại nơi bị thu hồi và đất tại nơi ở mới.


8. Đất có nhà vườn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận là di tích lịch sử - văn hoá.


9. Người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất trên 50% giá tính thuế.


Điều 10. Giảm thuế


Giảm 50% số thuế phải nộp cho các trường hợp sau đây:


1. Đất của dự án đầu tư thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư; dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; đất của doanh nghiệp sử dụng từ 20% đến 50% số lao động là thương binh, bệnh binh;


2. Đất ở trong hạn mức tại địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn;


3. Đất ở trong hạn mức của thương binh hạng 3/4, 4/4; người hưởng chính sách như thương binh hạng 3/4, 4/4; bệnh binh hạng 2/3, 3/3; con của liệt sỹ không được hưởng trợ cấp hàng tháng;


4. Người nộp thuế gặp khó khăn do sự kiện bất khả kháng nếu giá trị thiệt hại về đất và nhà trên đất từ 20% đến 50% giá tính thuế.


Điều 11. Nguyên tắc miễn thuế, giảm thuế


1. Người nộp thuế được hưởng cả miễn thuế và giảm thuế đối với cùng một thửa đất thì được miễn thuế; người nộp thuế thuộc hai trường hợp được giảm thuế trở lên quy định tại Điều 10 của Luật này thì được miễn thuế.


2. Người nộp thuế đất ở chỉ được miễn thuế hoặc giảm thuế tại một nơi do người nộp thuế lựa chọn, trừ trường hợp quy định tại khoản 9 Điều 9 và khoản 4 Điều 10 của Luật này.


3. Người nộp thuế có nhiều dự án đầu tư được miễn thuế, giảm thuế thì thực hiện miễn, giảm theo từng dự án đầu tư.


4. Miễn thuế, giảm thuế chỉ áp dụng trực tiếp đối với người nộp thuế và chỉ tính trên số tiền thuế phải nộp theo quy định của Luật này”.
HỐ KHÔ!